Home » Tin Tức » Tin tức tổng hợp » Tin tức báo chí

Lịch sử của xe lửa ở Việt Nam

Thứ ba - 20/09/2016 05:10
Lịch sử của xe lửa ở Việt Nam

Lịch sử của xe lửa ở Việt Nam

Lịch sử hình thành và phát triển mạng lưới đường sắt Việt Nam
  Năm 1881, người Pháp khởi công xây dựng đường sắt ở Việt Nam. Hiện tại có 3 khổ đường: Loại 1 m, 1,435 m và đường lồng cả loại 1 m và 1,435 m. Tổng chiều dài đường sắt là 3.142,69 km, trong đó gồm 2632 km đường sắt chính, 402,69 km đường ga và 107,95 km đường nhánh. Trên đường sắt có 1777 cái cầu với chiều dài tổng cộng là 44073 m, trong đó 576 cầu có trạng thái kỹ thuật tốt với chiều dài 16.223 m còn lại 1.201 cầu trạng thái kỹ thuật xấu với chiều dài 27.850 m. Cấp tải trọng của cầu không đồng nhất từ T11 đến T22. Đường sắt Việt Nam đi xuyên qua các hầm chủ yếu ở hai tuyến: phía Nam trên tuyến đường Thống Nhất có 27 hầm với chiều dài tổng cộng là 8335 m; phía Bắc tuyến Hà Nội – Lạng Sơn có 8 hầm với tổng chiều dài là 3133,4 m.
 

   Phân bố tập trung ở phía bắc dài 1.120 km (từ Tây sang Đông) và chạy dọc đất nước theo hướng Bắc – Nam (dài cả tuyến nhánh khoảng 2.010 km từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh). Cả nước có 64 tỉnh và thành phố thì tàu hỏa đi qua 35 tỉnh và thành phố và hầu hết đi qua các tỉnh và thành phố lớn.

Đường sắt đi qua các các vùng dân cư, khu kinh tế và các trung tâm văn hoá: chiếm 57% dân cư, 47% về tổng diện tích đất đai và 60% về GDP.
 

Đường Sắt Việt Nam Thời Pháp Và Trong chiến tranh

Đường sắt Việt Nam là một trong những ngành công nghiệp lâu đời của Việt Nam.Ngành Đường sắt Việt Nam ra đời năm 1881 bằng việc khởi công xây dựng tuyến Đường sắt đầu tiên đi từ cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn dài 13 km. 
Chuyến tàu đầu tiên khởi hành ở Việt Nam là vào ngày 20 tháng 7 năm 1885. Những năm sau đó, mạng lưới Đường sắt tiếp tục được triển khai xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam theo công nghệ đường sắt của Pháp với khổ đường ray 1 mét.Thời kỳ chiến tranh, Hệ thống Đường sắt bị hư hại nặng nề.Kể từ năm 1986, Chính phủ Việt Nam tiến hành khôi phục lại các tuyến đường sắt chính và các ga lớn, đặc biệt là tuyến Đường sắt Bắc Nam. 
Lịch sử hình thành và phát triển Lịch sử Đường sắt Việt Nam (1881–1966).Thời kỳ trước 1945 Ngày 20 tháng 7 năm 1885 chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ Ga Sài Gòn, vượt Sông Vàm Cỏ Đông bằng phà tại Bến Lức, đến Ga cuối cùng tại Trung tâm Thành phố Mỹ Tho đánh dấu sự ra đời của Ngành Đường sắt Việt Nam.
Đến tháng 5 năm 1886 toàn bộ các cầu trên tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho đã hoàn thành cho phép tàu chạy một mạch tới Mỹ Tho. 
Năm 1902, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng; Năm 1902, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Hải Phòng; Năm 1906, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Lào Cai; Năm 1931, Pháp xây dựng xong Đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt; Năm 1933, Pháp xây dựng xong Đường sắt Sài Gòn – Lộc Ninh; Năm 1899 - 1936, Pháp xây dựng xong tuyến Đường sắt Bắc Nam.
Ba mươi năm đầu tiên của Thế kỷ XX, để thực hiện chính sách khai thác triệt để thuộc địa, Pháp đã xây dựng một Hệ thống Đường sắt từ Bắc vào Nam,nhưng chủ yếu nhằm phục vụ công cuộc cai trị và khai thác.
Thời kỳ từ 1945 đến 1954 Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công,ngày 28 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã Chính thức ký Quyết định thành lập Bộ Giao thông Công chính thuộc Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó có Sở Hỏa Xa – Cơ quan Quản lý Nhà nước và khai thác về Đường sắt Việt Nam. Và từ đây, Hệ thống Đường sắt Việt Nam đã thực sự trở thành tài sản của người Việt Nam, phục vụ người dân nước Việt. Thời kỳ từ 1954 đến 1975 Việt Nam tạm thời chia cắt thành hai miền lấy Vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Cơ cấu tại miền Bắc Do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát. Đường sắt xây dựng CNXH ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam. Thời kỳ này, do nhiệm vụ mới của Bắc Việt là khôi phục phát triển kinh tế miền Bắc để chi viện cho chiến trường miền
Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định Thành lập Tổng Cục Đường sắt trực thuộc Bộ Giao thông và Bưu điện (trước đó là Bộ Giao thông Công chính) do Ông Nguyễn Văn Trân Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện kiêm Tổng Cục trưởng; các Tổng Cục trưởng tiếp theo là Hồng Xích Tâm Thứ trưởng kiêm nhiệm, Hà Đăng Ấn. Cơ cấu, bộ máy tổ chức của Tổng Cục Đường sắt
(trước đó là Sở Hỏa Xa ) cũng được nâng lên ngang tầm với nhiệm vụ, chức năng cụ thể được Chính phủ giao. 
Cơ cấu của Tổng Cục Đường sắt bao gồm: Văn phòng Tổng Cục Đường sắt; Cục Cầu đường Đường sắt; Nhà máy Xe lửa Gia Lâm; Cục Vận chuyển Đường sắt; Cục Kiến thiết Cơ bản Đường sắt; Ban Chỉ huy Quân sự Đường sắt; Ty Công an Đường sắt; Ty Y tế Đường sắt; Ty Thông tin Tín hiệu Đường sắt; Trường Đảng Tổng Cục Đường sắt; Trường Công nhân kỹ thuật Tổng cục Đường sắt (Phổ Yên, Bắc Thái) Trường Trung cấp Đường sắt (Vĩnh Yên,Vĩnh Phú) Ban Thể dục - Thể thao Đường sắt (thành lập năm 1960). Giai đoạn 1954 – 1964 Trong 10 năm (1954 – 1964), Hệ thống Đường sắt miền Bắc đã được xây dựng và khôi phục lại với những tuyến đường chính là Hà Nội – Lào Cai; Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn.

Những tuyến đường này đã có vai trò quan trọng phục vụ đi lại, khôi phục kinh tế miền Bắc
trong nhiều năm thời điểm đó và còn phát huy tác dụng đến bây giờ. Một Tuyến Đường sắt
khác được xây dựng là Hà Nội – Thái Nguyên với 164 km cũng hoàn thành trong giai đọan
này. Vận tải Đường sắt trong 10 năm (1954 – 1964) đã đảm nhận trên 20% khối lượng vận chuyển
toàn ngành GTVT, thực hiện sản lượng luân chuyển hàng hoá trên 50%.Công nghiệp Đường sắt được hình thành với một số chuyên ngành tuy còn hạn hẹp nhưng đã tự túc sản xuất được một số mặt hàng phục vụ ngành, nổi bật nhất là Nhà máy Xe lửa Gia Lâm đã hình thành được nhiều phân xưởng quan trọng làm tiền đề cho công nghiệp đóng tàu Đường sắt sau này như phân xưởng sửa chữa
đầu máy, đóng mới toa xe, rèn, đúc v.v...

Giai đoạn 1964 – 1975 Đường sắt miền Bắc chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của Hoa Kỳ và chi viện cho giải phóng miền Nam. Đây là thời kỳ đầu đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Ngành Đường sắt kể từ khi thành lập. Hai đặc điểm nổi bật của Ngành thời kỳ này là phục vụ sự nghiệp củng cố và phát triển kinh tế miền Bắc và chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở chiến trường miền Nam. Cũng trong giai đoạn này, Ngành Đường sắt đã nhận được một sự đầu tư đáng
kể của Nhà nước và viện trợ giúp đỡ của bạn bè quốc tế, đặc biệt là sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc. Những sự kiện nổi bật ghi dấu ấn của Ngành trong giai đoạn này là duy trì vận chuyển hàng
viện trợ và chở bộ đội trên các tuyến đường từ Bắc vào Vinh với phong trào "Tất cả vì miền Nam thân yêu" do Hồ Chí Minh phát động. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Hồ Chí Minh, Ngành Đường sắt miền Bắc đã lập nên những kỳ tích huy hoàng, góp phần quan trọng vào chiến thắng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Hoa Kỳ oanh liệt. Ngành Đường sắt, liên tục đảm bảo giao thông suốt trong điều kiện bị Mỹ đánh phá dữ dội.

Ngành Đường sắt đã làm 3.915 mét cầu tạm, 82 kilô mét đường và 274,5 kilô mét dây thông tin
và vận chuyển được 4,16 triệu tấn hàng hoá. Cán bộ, nhân viên và tự vệ Ngành Đường sắt đã
bắn rơi hàng chục máy bay các loại và dò phá được hàng ngàn quả bom nổ chậm ở các chiến
trường trọng điểm miền Nam. Người đứng đầu Ngành Đường sắt miền Bắc giai đoạn này là Tổng Cục trưởng Hà Đăng Ấn - Ông đã ghi dấu ấn đậm nét trong Ngành với các chiến công làm rạng rỡ truyền thống Ngành Đường sắt sau này. Cơ cấu tại miền Nam Do Việt Nam Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (từ 1970 là Cộng hòa miền Nam Việt Nam) kiểm soát. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa xây dựng và khai thác Hệ thống Đường sắt ở miền Nam, Cơ quan quản lý là Cục Hỏa xa Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông và Bưu điện thuộc Chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Tính đến năm 1971 - 1972 thì Việt Nam Cộng hòa có 1.240 km đường sắt nhưng vì chiến cuộc và an ninh nên chỉ có 57% sử dụng được. Dù vậy, tổng lượng hành khách và hàng hóa chuyên chở bằng
đường sắt tăng dần. Cụ thể: Năm 1968, Tổng lượng hàng hóa vận tải 400.000 tấn; Số lượng hành khách 0,73 triệu; Năm 1969, Tổng lượng hàng hóa vận tải 530.000 tấn; Số lượng hành khách 1,75 triệu; Năm 1970, Tổng lượng hàng hóa vận tải 720.000 tấn; Số lượng hành khách 2,4 triệu; Thời kỳ sau 1975 Thời kỳ đầu Thời kỳ này là thời kỳ Đường sắt Thống Nhất. Tổng Cục trưởng Tổng Cục Đường sắt lượt là: Hà Đăng Ấn, Đặng Hạ, Trần Mẫn, Nguyễn Văn Tư, Đoàn Văn Xê. Phó Tổng Cục trưởng: Trần Mẫn,Nguyễn Duy Ninh, Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Tuấn Bình,... Cơ cấu của Tổng Cục Đường sắt bao gồm: Văn phòng Tổng Cục; Các Vụ Tham mưu; Cục Cơ khí - Cầu đường Đường sắt; Cục Vận chuyển; Ban Chỉ huy Quân sự Đường sắt (năm 1980 trực thuộc Bộ Quốc phòng); Công an Đường sắt (năm 1980 chuyển thành Cục Cảnh sát Giao thông Đường sắt và Đường bộ trực thuộc Bộ Nội vụ - nay là Bộ Công an); Sở Y tế Đường sắt (năm 1994 chuyển thành
Sở Y tế Giao thông Vận tải trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải); Sở Thông tin Tín hiệu Đường sắt; Trường Đảng Tổng Cục Đường sắt; Trường Cao đẳng Đường sắt; Ban Thể dục - Thể thao Đường sắt; Xí nghiệp Dụng cụ Cao su Đường sắt trực thuộc Tổng Cục (trước kia trực thuộc Ban Thể dục - Thể thao Đường sắt); Xí nghiệp Liên hợp Đường sắt Khu vực 1, 2,3; Các Công ty Công trình Cầu đường Đường sắt; Các Công ty Phục vụ Đường sắt 1, 2; Nhà máy Cơ khí Cầu đường Đường sắt; Nhà máy Xe lửa Gia Lâm. Nhà máy Xe lửa Dĩ An; Thời Bao cấp Ngày 31 tháng 12 năm 1976, đầu máy này đã kéo đoàn tàu đầu tiên khai thông tuyến đường sắt Bắc Nam. Hiện vật đang được trưng bày tại Ga Sài Gòn.

Giai đoạn 1975 – 1985, Đường sắt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN.Sự tàn phá của chiến tranh trong một giai đoạn dài đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống giao thông trong đó có đường sắt cả hai miền Nam, Bắc. Ngành Đường sắt đã chấn chỉnh và tổ chức lại bộ máy hoạt động và hình thành một bộ máy mới với các chức năng đầy đủ hơn, đáp ứng thực tế. Các Ty Quản lý trực thuộc Tổng Cục Đường sắt chuyển thành Sở và nhiều doanh nghiệp quốc doanh của Ngành Đường sắt đã ra đời và giữ vững mô hình hoạt động đến năm 1986. Giai đoạn này đã khánh thành tuyến Đường sắt Bắc Nam (Đường sắt Thống Nhất) với sự kiện ngày 13 tháng 12 năm 1976 chuyến hàng từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Thủ đô Hà Nội và chuyến tàu chở Apatít phục vụ nông nghiệp đã từ Lào Cai lên đường vào Thành phố Hồ Chí Minh. Vận tải Đường sắt cũng đã khai thông tuy năng lực chuyên chở vẫn còn hạn chế. Xây dựng mới hơn 2 vạn mét cầu, 520 cống, đặt mới 660 kilô mét đường ray và 1.686 kilô mét dây thông tin.Tạo ra diện mạo khác hẳn thời kỳ chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ.

Việt Nam có 15 tuyến chính:

  1. Hà Nội – Sài Gòn: 1726,2 km
  2. Gia Lâm – Hải Phòng: 95,7 km
  3. Hà Nội – Đồng Đăng: 163,3 km
  4. Yên Viên – Lào Cai: 285 km
  5. Đông Anh – Thái Nguyên: 54,7 km
  6. Kép – Lưu Xá: 56,7 km
  7. Kép – Hạ Long: 105 km
  8. Chí Linh – Phả Lại: 14,9 km
  9. Bác Hồng – Văn Điển: 49,2 km
  10. Mai Pha – Nam Dương: 29,6 km
  11. Cầu Giát – Nghĩa Đàn: 30 km
  12. Diêu Trì – Quy Nhơn: 10,8 km
  13. Đà Lạt - Trại Mát: 7,68 km
  14. Phủ Lý – Kiện Khê: 6,9 km
  15. Mương Mán – Phan Thiết: 12 km

Thư HCM gửi Sở Hoả xa 18/11/1946 


Đoàn tàu đầu tiên trên đất Đông Dương từ SG đi Chợ Lớn ngày 27-12-1881


Ga Sài Gòn xây dựng năm 1881


Đoàn tầu chở người trên đường sắt khổ rộng 0,60m phủ Lạng Thương-Lạng Sơn năm 1894


Cầu Hàm Rồng trên tuyến đường sắt xuyên Việt xây dựng xong và đưa vào sử dụng năm 1904


Vua Thành Thái đi tầu tại ga Huế năm 1905


Một xưởng máy của Nhà máy Xe lửa Gia Lâm năm đầu đi vào hoạt động 1905


Lễ khánh thành phần đường bộ của cầu Long Biên ngày 25-4-1924


Ga Hà Nội trước năm 1927 "mặt trước"


Ga Hà Nội trước năm 1927 "mặt sau"


Lao động khổ sai xây dựng mố cầu phía Nam km 1228+912 khu gian Đèo Cả
trên tuyến đường sắt Hà Nội-Sài Gòn


Nhà máy Xe lửa Trường Thi trong thời kỳ xây dựng "trước năm 1927"


Trên tuyến đường sắt Tháp Chàm-Đà Lạt thời Pháp thuộc


Ga Quy Nhơn năm 1932


Ga Lộc Ninh trên tuyến đường sắt Sài Gòn-Lộc Ninh thời Pháp thuộc


Thực dân Pháp sử dụng đường sắt để khai thác mủ cao su ở Biên Hoà "Nam Bộ"


Bia kỷ niệm nối đoạn ray cuối cùng trên đường sắt xuyên Việt tại km 1221 Hảo Sơn-Đại Lãnh ngày 2-10-1936

Tác giả bài viết: XNCT

Nguồn tin: Internet

Tin liên quan

 

Giới thiệu

Đăng nhập thành viên

Thống kê truy cập

   

Tổng lượt truy cập    Tổng lượt truy cập: 179610

Đang truy cập    Đang truy cập: 4

ngaytruyenthong
facebook
youtube
forum
tricc

  • Address: 26/371 Kim Mã - Phường Ngọc Khánh - Quận Ba Đình - Hà Nội
  • Email: xntvctgt@tricc.vn
  • Tel: (+084) 04.3.7711552
  • Fax: (+084) 04.3.8316856
  • Website: www.xntvctgt.vn

  • Xí nghiệp Tư vấn Đầu tư & Xây Dựng Công trình Giao thông
  • Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Giao thông Vận tải
  • Transport Investment & Construction Consultant Joint Stock Company (TRICC - JSC)
  • Email: tricc@fpt.vn
  • Website: www.tricc.vn